|
HẢI
QUÂN VNCH DI TẢN NĂM 1975 Đinh
Mạnh Hùng Friday, November 23, 2018 |
|
HoangsaParacel:
Một Vì Sao Vụt Tắt: Cựu
Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng
đã ra khơi lần cuối cùng tại
tiều bang Virginia Hoa Kỳ trong ngày Lễ Tạ Ơn
22-11-2018 lúc 4.30 PM giờ miền Đông Hoa kỳ. Khi
còn là Hải Quân Đại Tá, Chỉ Huy Trưởng
Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang, vị
sĩ quan Hải Quân Việt Nam cao lớn, đẹp
trai, tài giỏi và lịch lãm này đã
được cố vấn trưởng US
Navy khen tặng:” HQ Đại Tá Đinh
Mạnh Hùng có khả năng chỉ huy bất
cứ chiến hạm nào trong Hải Quân Hoa Kỳ.”
Trong cuộc sống lưu vong, ông đã tích cực
tham gia vào các hoạt động đấu
tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho
Việt Nam. Vĩnh Biệt Đô Đốc Đinh
Mạnh Hùng.
Qua
các phỏng vấn và hình ảnh, DVD cũng đã cho
ta thấy tình trạng lo lắng, hoang mang, bất an
của thủy thủ đoàn và “tình hình trên các
chiến hạm căng thẳng như thùng thuốc súng
sắp nổ tung”. Riêng câu hỏi “ai đã khéo
chỉ huy, lèo lái tình hình, hướng dẫn đoàn
tàu ra đi trong trật tự và bình yên” thì có
lẽ chưa thấy được giải đáp
thỏa đáng. Về
câu hỏi này, là một thành phần trong bộ tham mưu
di tản, người viết xin đóng góp một
số nhận xét như một chứng nhân của
cuộc hành trình lịch sử này. Tất cả
những gì trình bày sau đây cũng đã được
tóm lược trong cuốn Hải Sử Tuyển
Tập do Tổng Hội Hải Quân VNCH phát hành năm
2004, từ trang 523 đến trang 530. Các
nhận xét về chuyến đi này được chia
làm hai phần: Phần
1: Diễn tiến cuộc di tản
Phần
1 – Diến tiến cuộc di tản Khởi
hành từ Sài Gòn lúc 7:00 giờ tối ngày 29 tháng 4 năm
75, các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa
tập trung tại Côn Sơn từ chiều ngày 30 tháng
4. Hạm đội khởi hành đi Subic Bay, Phi
Luật Tân trưa ngày 1 tháng 5 và đến Phi Luật
Tân vào chiều ngày 7 tháng 5. Các
diến tiến sau đây bắt đầu từ lúc
hạm đội hình thành tại Côn Sơn và
được phân thành các tiểu đoạn như
sau: 1.1
Bộ tham mưu –
Làm gì bây giờ? 1.5
Đến bến –
Chuẩn bị vào bến 1.1
Bộ tham mưu Năm
2001, Ban Hải sử Tổng hội Hải quân Việt
Nam Cộng Hòa có hỏi tôi một số câu hỏi,
trong đó có câu sau: “Xin Đề đốc cho
biết, khi rời Sài Gòn, Bộ Tư Lệnh nổi
trên đường di tản được tổ
chức ra sao? Một cách cụ thể, bên dưới
Đô Đốc Cang, các giới chức Hải quân trên
HQ 3 đã được phân nhiệm như thế nào?”
Tôi đã trả lời như sau: “Bây giờ thì
gọi là Bộ Tham Mưu chứ trên thực tế lúc
đó thì tùy cơ ứng biến. Có việc gì thì
họp nhau cùng bàn, sau khi có sự đồng ý của
Đô đốc Cang thì chia nhau mà làm, miễn sao có
kết quả êm đẹp”. Thực
tế đã diễn ra đúng như vậy. Trên HQ 3
– Tuần dương hạm Trần Nhật Duật
– mà Hạm trưởng là HQ Trung tá Nguyễn Kim
Triệu, ngoài thủy thủ đoàn, thành phần
BTL/HQ gồm có, theo thứ tự thâm niên: Phó Đô
đốc Chung Tấn Cang, Phó Đề đốc
Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề đốc Diệp
Quang Thủy, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh và
HQ Đại tá Nguyễn Xuân Sơn. Về sau, có Phó
Đề đốc Đặng Cao Thăng đến
từ Vùng 4 Sông ngòi, Phó Đề đốc Nghiêm Văn
Phú từ Lực lượng Tuần thám. Bây
giờ nghĩ lại, thấy có vẻ khôi hài. Người
thì ít mà toàn là tướng không, vậy ai làm lính. Cũng
may là công việc làm không dùng đến cơ bắp,
chỉ cần có cái miệng, nhưng lại phải
trực phiên 24 tiếng đồng hồ, ăn ngủ
tại chỗ, cũng khá mệt nhọc. Chắc có người
thắc mắc nhân viên đâu cả? Xin thưa: họ
cùng với gia đình ở rải rác trên các chiến
hạm khác. Đây cũng chứng tỏ sự linh
động và nhân hậu của cấp lãnh đạo. Sau
buổi họp tham mưu cao cấp trên HQ 3 chiều ngày
30 tháng 4, khi giải tán, các giới chức đến
họp đã trở về chiến hạm chở gia
đình họ. Như vậy mặc nhiên ngầm có
sự đồng ý để các nhân viên ở gần
gia đình họ. Biết rằng hầu hết các sĩ
quan đều mang theo gia đình họ nên không ai có ý
nghĩ gọi họ lại nhiêm sở. Tôi nghĩ
rằng, nếu không vì gia đình, chắc chắn
mọi người sẽ tự động trở
về nhiệm sở của mình. 1.2
Vấn đề truyền tin Kể
từ lúc Đại tướng Dương Văn Minh
tuyên bố hạ súng vào sáng ngày 30 tháng 4 thì hệ
thống truyền tin như một cái chợ vỡ.
Đủ mọi chuyện được đem ra trao
đổi hỏi han, nhất là các đề tài sau: bàn
về tình hình, hỏi han tin tức gia đình, bàn
chuyện di tản hay không, than van về tình cảnh cá
nhân v.vv…, chứng tỏ một tình trạng lo
lắng hoang mang cực độ của các thủy
thủ đoàn. Tình trạng này nếu tiếp tục
thì thật là nguy hiểm vì có thể đem lại
sự phân hóa trong hạm đội. Mặt khác
nếu ngăn chặn thông tin thì làm sao hiểu
được tình hình mà trù liệu công việc.
Đó là chưa kể các mối lo khác như bị xâm
nhập và phá rối, khuyến dụ của Việt
cộng. Để
giải quyết tình hình này, Phó Đề đốc
Hoàng Cơ Minh được chỉ định đảm
trách điều hành hệ thống liên lạc, chỉ
huy và là người độc nhất được
sử dụng hệ thống truyền tin để tránh
khỏi bị cướp phá. Tóm lại, Phó Đề
đốc Minh thường trực đích thân theo dõi
hệ thống truyền tin để: bảo đảm
an ninh truyền tin, theo dõi tình hình, giải quyết các
vấn đề có thể giải quyết ngay, nêu lên
các vấn đề cần giải quyết, chuyển
các quyết định của BTL cho các đơn
vị và theo dõi thi hành. Trong
thư trả lời ban Hải sử, tôi đã tóm
tắt vấn đề như sau: “Chỉ huy chiến
thuật đòi hỏi 4 điều kiện khi liên
lạc: An toàn chính xác về truyền tin, nắm
vững tình hình, tiếng nói của thẩm quyền.
Trong khi triệt thoái, binh sĩ hoang mang dao động, các
điều kiện trên lại càng quan trọng. Phó
Đề đốc Minh đã có nhiều kinh nghiệm
điều quân trong sông nên ông rất hữu hiệu
trong trách vụ liên lạc chỉ huy…” Đúng
vậy, Phó Đề đốc Minh đã hoàn thành
nhiệm vụ này một cách tối hảo. Tiếng nói
của ông vang vang trên hệ thống truyền tin
suốt ngày đêm cũng như sự duy trì được
kỷ luật và an ninh truyền tin trong suốt cuộc
hành trình là một kỳ tích ít người làm
được. Và là một đóng góp quyết định
vào sự hoàn thành tốt đẹp của cuộc di
tản. “Ngoài việc bảo đảm được
sự vận hành của hệ thống truyền tin, các
đóng góp của Phó Đề đốc Minh vào
sự giải quyết các công việc khác cũng đáng
được ca ngợi” (Hải sử Tuyển
tập trang 527). 1.3
Đi hay ở lại? Đối
với hầu hết các thủy thủ đoàn, khi các
chiến hạm thi hành lệnh tập trung tại Côn Sơn
thì việc đi hay ở lại chưa thành một
vấn đề. Nhưng từ lúc Đại tướng
Dương Văn Minh tuyên bố buông súng thì tình hình
trở nên sôi động. Chuyến đi này trở thành
chuyển đi sau cùng và một chiều của hạm
đội. Sẽ không có ngày trở lại. Trong
suốt đêm 30 tháng 4, giải quyết vấn đề
đi hay ở lại là công việc chính của bộ
tham mưu. Vấn đề này bao gồm hai mặt:
mặt cá nhân và mặt chiến hạm. Về
mặt cá nhân tương đối dễ giải
quyết. Từ chập tối 30 tháng 4, đã có
những cá nhân tỏ ý không muốn rời Việt Nam
và muốn trở lại Sài Gòn. Đến trưa hôm
sau thì số người muốn trở về Sài Gòn
mỗi lúc một đông, trở thành một vấn
đề cần phải được giải
quyết. Để trấn an mọi người,
quyết định cung cấp phương tiện cho
những ai muốn về lại Sài Gòn được
ban hành và thông báo ngay đến toàn thể chiến
hạm. Một hỏa vận hạm được
chọn và đến từng tàu bốc người
muốn trở về. Ngoài chiếc hỏa vận
hạm, một số tuần duyên đỉnh (PCF) cũng
xin về theo… Kể đến lúc Hạm đội
khởi hành đi Subic Bay, tất cả những ai không
muốn di tản đã được thỏa mãn
nguyện vọng và được chuyển vận
trở về Vũng Tàu. Về
mặt chiến hạm, vấn đề không còn là cá
nhân mà trở thành tập thể. Vì chiến hạm
gồm thủy thủ đoàn sẽ không di tản, mà
ở lại Việt Nam. Giải quyết các trường
hợp này thì dễ hay khó tùy thuộc vào mức độ
phân vân của đơn vị liên hệ. Đa số
trường hợp được giải quyết
thỏa đáng qua thảo luận trên hệ thống
truyền tin giữa đơn vị trưởng và Phó
Đề đốc Minh hoặc đại tá Sơn.
Điển hình là trường hợp HQ Thiếu tá Vương
Thế Tuấn, Hạm trưởng HQ 229 (DVD CHHCC). Tôi
chỉ biết một trường hợp khó khăn,
được giải quyết vào giờ phút cuối
cùng, trước khi hạm đội lên đường.
Sáng ngày 1 tháng 5, trong khi chuẩn bị khởi hành, thì
có một chiến hạm báo cáo không muốn di tản
và thủy thủ đoàn không muốn rời Việt
Nam. Trên chiến hạm chỉ huy, Phó Đô đốc
Cang nhìn chúng tôi dò hỏi. Đại tá Sơn đề
nghị cho tàu đó cặp vào HQ 3 và để ông
đi qua giải quyết. Rất lâu không thấy ông
trở về. Đô đốc Cang sốt ruột và lo
lắng ra mặt. Tôi lên tiếng đề nghị cho
tôi sang đó xem xét tình hình. Sau một lúc ngần
ngừ, Phó Đô đốc Cang bảo để ông
cho cận vệ đi cùng tôi. Tôi suy nghĩ thật
nhanh, là có cận vệ với tình hình này chưa
chắc đã an toàn hơn nên từ chối và rời
đài chỉ huy. Bây
giờ hồi tưởng lại lúc đó, tôi cũng
thấy là lạ. Bước qua hạm kiều, ngoài
mấy thủy thủ đứng gác, chiến hạm
thật vắng lặng, có lẽ tất cả thủy
thủ đoàn đang hội họp với đại
tá Sơn. Càng lạ hơn là không thấy dân chúng
hiện diện. Có thể tàu này đang công tác ngoài
biển và được lệnh đến thẳng
đây. Sau khi chào hỏi, một thủy thủ
đưa tôi xuống phòng ăn đoàn viên. Bước
vào, không khí thật kỳ lạ. Đại tá Sơn
ngồi bàn chủ tọa, thủy thủ đoàn
ngồi đối diện. Không ai nói năng gì.
Một sự im lặng hoàn toàn. Trước tình hình
đó, tôi chỉ biết nhìn thủy thủ đoàn
rồi quay sang đại tá Sơn nói: “Đã đến
giờ khởi hành, phải về tàu”. Nói xong tôi
rời phòng hội, trở về HQ 3. Ít lâu sau đại
tá Sơn cũng về tàu chỉ huy. Hạm đội
lên đường đúng giờ ấn định. Đến
nay thì tôi vẫn không biết chuyện gì xảy ra trên
chiến hạm đó. Qua đây, tôi có vài dịp
gặp lại đại tá Sơn mà quên hỏi.
Sự việc này đã được tôi trình bày
ngắn gọn trong tập Hải Sử đề
cập trên. 1.4
Hành trình Làm
gì bây giờ? Kể
từ lúc đại tướng Minh ra lệnh
đơn phương ngừng bắn thì công cuộc
di tản đã trở thành rõ rệt. Đây là
chuyến đi một chiều của Hải quân VNCH,
không có ngày quay trở lại. Nhưng làm gì tiếp thì
chưa biết, ngoại trừ một nguyên tắc
đã được Phó Đô đốc Cang đề
ra trong khi chuẩn bị:“Nếu có làm gì thì cũng làm
như một tập thể”. Chiều
ngày 30 tháng 4, ngay sau khi đến Côn Sơn, một
buổi hội đã được triệu tập trên
HQ 3 gồm các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp có
mặt tại điểm tập trung. Buổi hội tương
đối ngắn và không có gì phải thảo
luận và bàn cãi nhiều. Sau khi xem xét tình hình chính
trị và tình trạng hạm đội, mọi người
đồng ý là phải liên lạc ngay với Hoa
Kỳ. Đến đây gặp khó khăn là không ai có
tần số hay hay biết cách liên lạc với Hoa
Kỳ. Trong khi mọi người đang suy nghĩ thì
đại tá Sơn lên tiếng than phiền mình bị
cách chức Tư Lệnh Hạm Đội một cách
bất công. (Uẩn ức này kéo dài đến ngày nay
và tôi sẽ trở lại vấn đề này sau). Không
đợi Phó Đô đốc Cang giải thích, đại
tá Sơn cho biết luôn là ông có tần số liên
lạc với Hoa Kỳ. Trở ngại được
giải quyết và buổi họp chấm dứt. Các
giới chức trở về chiến hạm có chở
theo gia đình mình…. Đi
đâu? Sáng
sớm ngày 1 tháng 5, ông Armitage đại diện Bộ
Quốc Phòng Hoa Kỳ đến HQ 3. Ông ngỏ lời
là Hoa Kỳ đồng ý tiếp nhận hạm đội
Việt Nam và đề nghị hạm đội di
chuyển đến Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ
tại đảo Guam. Khi duyệt lại tình trạng
hạm đội, thấy rằng nếu đi Guam xa
gần 2 ngàn 500 hải lý thì nhất định sẽ
gặp một số trở ngại quan trọng, đáng
kể là tình trạng kỹ thuật của một
số chiến hạm không được khả quan và
hạm đội phải đi theo vận tốc
của chiến hạm có tình trạng máy tệ
nhất là là khoảng 5 gút (hải lý/giờ), thời
gian hải hành quá lâu. Thêm nữa các chiến hạm
chở quá đông dân chúng di tản, ước lượng
khoảng 30 ngàn người, chắc chắn là sẽ
gặp nhiều khó khăn về ăn uống. Do đó
Bộ tham mưu đề nghị đưa hạm
đội đến Subic Bay xa chỉ khoảng trên 900
hải lý. Mặc dù ông Armitage luôn luôn nhấn mạnh
đến mong muốn của Hoa Kỳ là phải đi
Guam, Phó Đô đốc Cang vẫn nhất định
đi Phi Luật Tân… Ngày
giờ khởi hành Sau
khi cân nhắc tình hình chung, Phó Đô đốc Cang cho
lệnh khởi hành di tản ngay sáng ngày 1 tháng 5. Có
nhiều lý do đưa đến quyết định
này. Một là để mọi người có việc
làm, chấm dứt bàn tán, từ đó những hoang
mang dao động sẽ tan dần, tinh thần trở nên
ổn định. Hai là nếu ai còn do dự chuyện
đi hay ở, sẽ đương nhiên chấm
dứt và trở lại sinh hoạt bình thường.
Ba là Côn Sơn trở nên không còn an toàn dưới áp
lực tù cộng sản được giải thoát,
chính quyền mới có thể gây khó khăn cho hạm
đội (Hải Sử trang 527-528). Quyết định
khởi hành sớm này dù đã không thỏa mãn
được yêu cầu của một số cá nhân,
như trường hợp đại tá Đỗ
Kiểm còn thất lạc gia đình và dù phải
bỏ lại một vài đơn vị như Vùng 5
Duyên Hải, nhưng cho thấy là một quyết định
đúng, đem lại sự an toàn và thành công của
chuyến di tản. Hải
hành Nhờ
thời tiết thật tốt, sóng yên biển
lặng, nên chuyến di tản thuận buồm xuôi gió.
Hạm đội sắp thành đội hình hai hàng
dọc, tốc độ trung bình 5 gút. Trên
phương diện tiếp vận, các tàu đã
được cung cấp đầy dầu nước
và thực phẩm trước khi rời Sài Gòn. Tuy
vậy, vì số dân di tản quá đông nên vấn
đề ăn uống cũng gặp một số
trở ngại. Nhờ óc sáng tạo và tinh thần
kỷ luật cao của các thủy thủ đoàn,
mỗi chiến hạm đã tự giải quyết các
khó khăn. Hải quân Hoa Kỳ trợ giúp phần
thực phẩm và y tế trong trường hợp
thật cần thiết… Nhìn
chung, đối với tập thể thì các trắc
trở không có là bao. Sau vài ngày hải hành, không
tuần Hoa Kỳ cho biết là hạm đôi không còn
giữ được đội hình hai hàng dọc, các
chiến hạm cũng không giữ khoảng cách đều
nhau. Để chấn chỉnh, Phó Đô đốc
Cang chia hạm đội thành 2 phân đội và Đề
đôc Lâm Ngươn Tánh đi trên HQ 1 được
chỉ định chỉ huy phân đội 2. Từ
đó đội hình hải hành được duy trì
tốt đẹp. Vài biến cố nhỏ xảy ra trên
chính chiếc soái hạm HQ 3. Một đám cháy trên sân
thượng và cả hai máy chánh bất ngờ đều
hư hỏng khi đến gần lảnh hải Phi nên
phải cần đến tàu kéo của Hoa Kỳ. Đối
với từng cá nhân thì chuyến đi vất vả
đau buồn. Có người gặp phải hoàn
cảnh nan giải thương tâm. Cũng có người
phải gánh chịu những hoàn cảnh đau xót riêng
tư cần sự trợ giúp của đồng đội.
Một số các trường hợp này- trường
hợp Dương vận hạm HQ 502, Hải vận
hạm HQ 402, Giang pháo hạm HQ 329 – đã được
nhắc đến trong tập Hải Sử… 1.5
Đến bến Chuẩn
bị vào bến. Khi
sắp gần đến Phi Luật Tân thì nhận
được tin là chính phủ này không chấp
thuận cho hạm đội VNCH vào vịnh Subic.
Bộ tham mưu họp bàn tìm giải pháp. Quả là
một trường hợp ngoại giao phức tạp,
không dễ dàng giải quyết. Giải pháp đưa
hạm đội đi Guam được đề
cập, cân nhắc. Hoa Kỳ lãnh trách nhiệm
đưa 30 ngàn đồng bào đến Guam bằng các
tàu dân sự để hạm đội dễ điều
động cho một hải trình tiếp tục dài này.
Trong lúc còn đang thu xếp thì Phó Đô đốc
Cang đưa ý kiến là với tình hình hiện
tại, Hạm đội của Hải quân VNCH nên
được trao trả cho Hải quân Hoa Kỳ vì trên
danh nghĩa đó, các chiến hạm Hoa Kỳ sẽ vào
căn cứ Hải quân Subic của mình. Ý
kiến này được chuyển đến giới
chức Hoa Kỳ. Một vài giờ sau, hạm đội
được thông báo là giải pháp được
chấp thuận với điều kiện: –
Tất cả đạn dược phải được
ném xuống biển. Đến
bến Chiều
ngày 7 tháng 5, hạm đội VNCH vào thả neo trong
vịnh Subic. Chuyến di tản an toàn, bình yên và đầy
đủ. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.
Sau khi tàu bỏ neo thì việc điều hành lên
bờ thuộc phía Hoa Kỳ. Vị sĩ quan liên
lạc yêu cầu các sĩ quan cấp tướng
rời tàu trước vì lý do an ninh. Theo kinh nghiệm,
trong trường hợp triệt thoái như thế này
có thể có những binh sĩ uất ức, gây gổ
với giới lãnh đạo, làm mất trật
tự. Dĩ nhiên ta phải nghe theo nhưng để
thủy thủ đoàn đỡ xôn xao thắc mắc,
hai Phó Đề đốc Nghiêm Văn Phú và Hoàng Cơ
Minh tự nguyện ở lại. Đồng
bào được các viên chức Hoa Kỳ thu xếp và
hướng dẫn sang các thương thuyền để
chuyển sang đảo Guam. Họ làm việc có tổ
chức cao, lớp lang, khoa học và thực tế. Vì
vậy công tác di chuyển rất tốt đẹp. Hai
vị Phó Đề đốc cùng với đồng bào
sang tận Guam và chỉ trở lại cùng gia đình
khi mọi người được tiếp nhận. Phần
2 – Các nhân vật điều động cuộc di
tản Trong
bất cứ hoạch định nào, luôn có hai nhân
vật trọng yếu quyết định sự thành
bại của công cuộc. Đó là người lãnh
đạo và người chấp hành. Nếu người
lãnh đạo suy tính sáng suốt và đưa ra các
quyết định hợp lý thì triển vọng thành
công đã được một nửa. Phần còn
lại tùy năng lực của người chấp hành.
Nhưng thường, người chấp hành có
xuất sắc lắm thì mức thành công cũng
chỉ đạt được 80% của triển
vọng. Trong
chuyến di tản của hạm đội VNCH, Hải
quân may mắn có được hai nhân vật xuất
sắc nắm giữ hai vai trò này. Đó là Phó Đô
đốc Cang trong cương vị chỉ huy và Phó
Đề đốc Minh trong cương vị điều
hành. Và Phó Đề đốc Minh điều hành
tận tụy đến nỗi mọi người
đều nghĩ ông chính là người chỉ huy toàn
bộ cuộc di tản. Sẽ là một bất công
đối với Phó Đô đốc Cang nếu
sự ngộ nhận tiếp tục kéo dài. Người
viết xin nêu lên sự phân công rõ rệt… 2.1
Phó Đô đốc Chung Tấn Cang Phó
Đô đốc Cang mới trở lại chức
vụ Tư lệnh Hải quân một thời gian
ngắn trước ngày 30 tháng 4. Ngoài công tác yểm
trợ cho việc triệt thoái miền Trung, phần
nhiệm cuối cùng của vị này là lo duy trì
hải lực trong thời kỳ suy yếu của
chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Quan trọng hơn
cả là sự trù liệu cho hạm đội di
tản khỏi Sài Gòn khi thành phố bị cộng quân
đe dọa. Trong
việc này, có hai quan niệm khác nhau đưa đến
việc cách chức Tư lệnh Hạm Đội
của Hải quân Đại tá Nguyễn Xuân Sơn. Theo
nhãn quan của một số sĩ quan trong đó có
thể lấy đại tá Sơn và đại tá
Kiểm làm thí dụ điển hình. Theo sự trình bày
công khai quan điểm của hai ông trong cuốn DVD
“CHHCC”, thì: 1.
Tình hình quân sự tại miền Nam là vô vọng,
sự sụp đổ của VNCH là tất yếu. Tuy
nhiên trên cương vị cấp lãnh đạo, Phó
Đô đốc Chung Tấn Cang nhìn vấn đề
không hoàn toàn thuần quân sự mà qua nhiều yếu
tố trong đó quan trọng nhất là yếu tố
chính trị quốc tế và một giải pháp chính
trị dung hòa có thể được hình thành. Tình
thế này đã được trình bày trong Hải
sử Tuyển tập, trang 525: “…Trong buổi họp
này, các công việc chuẩn bị đã được
thảo luận và quyết định. Tôi không nghĩ
là đã có một kế hoạch viết về dự
trù di tản này. Vấn đề di tản dân chúng cũng
không thấy được đặt ra. Chỉ nêu
việc di tản hạm đội. Bao giờ di tản
thì tùy tình hình quân sự quyết định. Còn làm
gì tiếp sau thì tùy nhiều yếu tố chính trị
phức tạp. Một số tình huống có thể
xảy ra: Rút về Vùng 4 Chiến thuật và tiếp
tục chiến đấu. Hoặc chia cắt đất
hoặc lập chính phủ liên hiệp, chính quyền
tan rã. Lúc bấy giờ không ai nghĩ đến
việc đại tướng Dương Văn Minh ra
lệnh buông súng!” Theo
Đề đốc Trần Văn Chơn thì ông không
di tản vì “còn nước còn tát”. Các tướng
lãnh đều tán thành quan niệm này. Nhưng sáng 29
tháng 4, Phó Đô đốc Cang được Đại
tướng Minh cho biết là: “Nước đã
cạn rồi, đi đi…” Cho tới lúc này, quan
niệm của Bộ Tư Lệnh Hải quân vẫn là
di tản khỏi Sài Gòn để bảo toàn lực lượng
chớ không phải để tỵ nạn ngoại
quốc. Vì vậy mọi hành động bất thường
đưa đến suy diễn có ý định đào
thoát đều không được chấp nhận.
Những hành động bất thường này có
thể dẫn đến tình trạng hoảng loạn
trong các đơn vị. Ngay cả các sĩ quan cao
cấp trong Bộ tư lệnh cũng rất thận
trọng khi di chuyển gia đình xuống tàu vào
giờ chót. Trong
tình huống chưa ngã ngũ, việc đại tá Sơn
chính thức gửi công điện cho phép thủy
thủ đoàn đưa gia đình xuống tàu là
một hành động tự tiện, vô nguyên tắc.
Việc cho phép thân nhân xuống tàu sẽ kéo theo
việc cho phép thân nhân vào các căn cứ trên bờ,
và như thế sẽ tạo cơ hội cho Việt
cộng trà trộn, xâm nhập toàn bộ các đơn
vị Hải Quân. Vì vậy sự việc ông bị cách
chức Tư lệnh Ham Đội là điều
dễ hiểu. Quyết định dứt khoát,
cứng rắn của Phó Đô đốc Cang có
thể đã giúp ngăn ngừa được các hành
động dẫn đến rối loạn, thiếu
an toàn trong vòng đai Hải quân. Quan
trọng nhất là việc cách chức cũng là để
phòng ngừa trường hợp Tư lệnh Hạm
Đội bất tuân lệnh Bộ Tư Lệnh
Hải Quân, tự mình dẫn Hạm đội rời
Sài Gòn khi tình hình chính trị chưa ngã ngũ. Tôi
mong Đại tá Sơn đọc được
những dòng này mà thông cảm với Phó Đô đốc
Cang và bớt nỗi bực dọc ở trong lòng. Cũng
chính nhờ bộ óc nhạy bén của Phó Đô đốc
Cang đưa ra các quyết định đứng lúc
kịp thời mà chuyến di tản được an
toàn đến bến bờ tự do… 2.2
Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh Tôi
đã có dịp ghi trong Hải Sử Tuyển Tập:
“Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh là một tướng
lãnh giỏi, lanh lẹ, tháo vát, lại có sức
bền bĩ không mệt mõi nên ông đã đóng góp
nhiều trong chuyện di tản. Nhờ ông mà hệ
thống truyền tin không bị phá rối, các chỉ
thị chuyển đi được kịp thời, các
tin tức thu nhận được đầy đủ
giúp việc đánh giá đúng mức. Tiếng nói
của ông đủ thẩm quyền để đem
lại sự tin tưởng và an tâm cho mọi người.
Ngoài ra, bất kể lúc nào, khi có đơn vị nào
cần ông có mặt tại chỗ là ông lấy
tiểu đỉnh đến tận nơi tìm hiểu
giải quyết. Tóm
lược, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh
đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ được
giao phó trong chuyến di tản là duy trì an ninh truyền
tin, trật tự đội hình và giải quyết khó
khăn trở ngại cho hạm đội và cá nhân. Lấy
trường hợp HQ Thiếu tá Vương Thế
Tuấn, Hạm trưởng HQ 229; HQ Thiếu tá
Nguyễn Văn Phước, Hạm trưởng HQ 231
(như trong DVD) làm thí dụ. Cả hai Hạm trưởng
đều ở trạng thái hoang mang bất định
và muốn trở về Sài Gòn. Chính
Phó Đề đốc Minh đã can gián, khuyên
giải nên họ đồng ý di tản. Đây
chỉ là hai trường hợp điển hình. Còn vô
số rắc rối từ cá nhân thủy thủ đoàn…
Nhờ kiến thức sâu rộng, nhờ tài năng
ăn nói của mình, Phó Đề đốc Minh đã
duy trì được kỷ luật và trật tự giúp
cuộc hành trình êm xuôi… Cũng nhờ khả năng
thu thập và phân tích tình hình, ông đã giúp Phó Đô
đốc Cang đưa ra các quyết định nhanh
chóng, hữu hiệu… Sau
nữa, nhưng không phải là sau cùng là vấn đề
oai quyền của người ra lệnh. Bình thường
người quân nhân được huấn luyện
để tuân hành mệnh lệnh. Tuy nhiên mức độ
tuân hành cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh. Trong trường
hợp nguy biến cấp bách, cấp bậc của người
ra lệnh càng cao thì mệnh lệnh càng có uy lực và
dễ được tuân phục. Ta gọi đó là
“lấy lon đè người”. Đấy là lý do
tại sao Phó Đề đốc Minh được
chỉ định phụ trách hệ thống liên
lạc mà không phải là đại tá Sơn. Mặt
khác, ngoài uy quyền của một tướng lãnh, cá
tính của Phó Đề đốc Minh cũng rất
đặc biệt và dễ ảnh hưởng mạnh
mẽ đến người đối thoại. Trong
mọi hoàn cảnh, ông rất bình tĩnh, tự tin, lưu
loát và thuyết phục mà không có tính cách ép buộc
hay áp chế. Hơn nữa, Phó Đề đốc
Minh rất dai sức, bền bĩ. Ông có thể làm
việc ngày đêm không nghỉ mà vẫn minh mẫn,
không tỏ vẻ mệt nhọc. Trong suốt cuộc hành
trình, Phó Đề đốc Minh luôn luôn hiện
diện tại nhiệm sở. Đêm như ngày,
tiếng nói của ông vang vang trên hệ thống
chỉ huy đã mang lại cảm giác bình an cho mọi
người. Với một cá tính như vậy, dù không
là một tướng lãnh, Phó Đề đốc Minh
vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình
một cách hoàn hảo. Nhưng có lẽ cũng chính
nhờ vậy mà ông được thăng lên hàng tướng
lãnh một cách nhanh chóng, trước các bạn đồng
khóa…. 2.3
Đại tá Nguyễn Xuân Sơn Trong
DVD “Chuyến Hải Hành Cuối Cùng”, Đại tá
Nguyễn Xuân Sơn tỏ ra không nhớ lại
những gì ông đã làm trong chuyến di tản.
Hoặc giả ông đã chóng quên, hoặc giả ông
coi những gì ông làm trong khi di tản chỉ là công
việc bình thường của người quân nhân nên
không đáng ghi nhớ. Điều
động một hạm đội triệt thoái không
phải giản dị mà rất phức tạp. Nếu
không nắm vững tình hình hạm đội về
khả năng từng chiến hạm, tình trạng
kỹ thuật, mức độ khiển dụng
sẵn sàng, tình trạng nhân viên, tính tình cấp
chỉ huy… thì rất dễ đưa ra các quyết
định khiếm khuyết gây khó khăn cho sự
điều hành và ảnh hưởng đến sự
hoàn tất của công việc. Vì
nguyên là Tư lệnh Hạm Đội, đại tá
Sơn là người độc nhất trong Bộ tham
mưu hiểu thấu đáo tình hình Hạm đội
và đã thực sự có những đóng góp đáng
ghi nhận vào cuộc di tản. Như
ở phần tiểu đoạn Làm gì bây giờ, tôi
đã kể đại tá Sơn là người duy
nhất biết cách và đã liên lạc ngay với Hoa
Kỳ. Nếu không nhờ ông, do tình hình biến
chuyển mau lẹ, kết quả việc di tản không
biết ra sao. Nên ghi nhận là vào ngày 29 tháng 4 đã có
chiến hạm tự động cho tan hàng mà không
về điểm tập trung. Hai chiến hạm đã
bỏ ý định này để gia nhập hạm
đội di tản. Trong
sự hoạch định công việc, các ý kiến
của đại tá Sơn đều được lưu
ý và tôn trọng như khi: –
Cứu xét tình trạng hạm đội để
đưa đến quyết định đi Subic Bay
thay vì đi Guam. Kết Gần
40 năm đã trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, bây
giờ hồi tưởng lại chuyện cũ,
chỉ là những hình bóng lờ mờ trong tâm trí;
kể lại những gì đã qua như trong một
giấc mơ, đúng sai không chắc. Nếu có gì sai
sót không đúng, in độc giả cứ tự nhiên
lên tiếng, không cần tham khảo với người
viết. Xin
đa tạ. Đinh
Mạnh Hùng |