|
Trận HẢI
CHIẾN HOÀNG SA năm 1974 VĨNH LIÊM |
|
Bản
đồ hải chiến Hoàng Sa 1974 *
MƯU ĐỒ và THAM VỌNG của TRUNG CỘNG Ðế
quốc Trung Hoa từ ngàn xưa cho tới nay (đế
quốc Trung Cộng) vẫn chỉ là một: tham
vọng bành trướng lãnh thổ (xâm lược)
hầu thống trị toàn thế giới. Đế
quốc Trung Hoa đã liên tục theo đuổi
giấc mộng xâm lược từ mấy ngàn năm
thì nay (19-1-1974) đã bị thế giới vạch
trần bộ mặt tham tàn khi trắng trợn xâm lăng
lãnh thổ nước Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa. Ðây không phải là lần đầu tiên đế
quốc Trung Hoa xâm lăng lãnh thổ Việt Nam, mà
đế quốc này đã từng làm trong các
triều đại Ngô, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê,
Nguyễn, và Tây Sơn. Qua
trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, chúng ta tự
hỏi: Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa nhằm mục
đích gì? Có 4 giả thuyết: (1) bành trướng lãnh
thổ; (2) có mỏ dầu tại Hoàng Sa; (3) thực
hiện giấc mộng “Nam tiến”; (4) kiểm soát
đường chiến lược trên Nam Hải
(thủy trình quốc tế). Gom cả 4 giả
thuyết này lại làm một thì mới giải thích
trọn vẹn tham vọng bành trướng và xâm lăng
của Trung Cộng. *
Hoàng Sa và Chủ quyền Việt Nam 1. Vị
trí và địa thế -
Quần đảo Hoàng Sa (Paracels hay Paracel Islands) còn
được Trung Cộng gọï là Tây Sa. Hoàng Sa (黄沙)
là bãi cát vàng, do Vua Gia Long đặt. Hoàng Sa cách
lục địa Trung Hoa khoảng 270 hải lý. Quần đảo Hoàng Sa (theo
cách gọi của Việt
Nam) hay quần đảo Tây Sa (giản
thể: 西沙群岛; phồn
thể: 西沙群島; Hán-Việt: Tây
Sa quần đảo; bính
âm: Xīshā
qúndǎo, theo cách gọi của Trung Cộng và Đài
Loan,
còn được biết đến thông qua tên
gọi quốc tế phổ biến bằng tiếng
Anh là Paracel Islands) là một nhóm khoảng 30 đảo, rạn
san hô, cồn
cát và bãi
đá ngầm ở biển
Đông,
là đối tượng tranh
chấp chủ quyền giữa
Trung Cộng, Đài Loan và Việt Nam. Hiện nay, Trung
Cộng là quốc gia đang duy trì sự kiểm soát cũng
như quyền tài phán trên thực tế đối
với toàn bộ quần đảo này. Quần đảo Hoàng Sa nằm cách miền
Trung Việt
Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến
những đảo phía bắc của Philippines;
cách đảo Lý
Sơn của
Việt Nam khoảng 200 hải lý và cách đảo Hải
Nam của Trung Cộng khoảng
230 hải lý. Tại bờ
biển Việt
Nam, thềm lục địa chạy thoai thoải
từ dãy Trường Sơn ra Hoàng Sa. Về địa
hình, Hoàng Sa là một hành lang của Trường Sơn
từ Lý
Sơn ra khơi. Đây là những bình
nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên
mặt biển. Theo
tài liệu của Hải Quân VNCH, Hoàng Sa là một dãy
đảo nhỏ, gồm khoảng 130 đảo,
nằm giữa kinh tuyến 111º - 113º Ð và vĩ
tuyến 15º45 - 17۫º05 B, cách Ðà Nẵng khoảng
170-200 hải lý (300-360 cây số về hướng ÐÐB),
cách Sàigòn và Hải Phòng khoảng 400-500 hải lý
(720-900 cây số). Diện tích chung quanh quần đảo
Hoàng Sa độ 10-11 cây số vuông. Mùa mưa từ
tháng 6 tới tháng 2 năm sau. Nhiệt độ
trung bình là 27 độ C. Hoàng Sa là một vị trí
chiến lược, kiểm soát mọi sự lưu thông
trong vùng biển Nam Hải. Ðài khí tượng của
VNCH đặt tại đảo Hoàng Sa (Pattle). Việc
trấn giữ đảo gồm 2 đại đội
TQLC và lực lượng ÐPQ. Quần
đảo Hoàng Sa gồm có 2 nhóm; khoảng cách
giữa hai nhóm này khoảng 40 hải lý (75 cây số): a. Nhóm
Nguyệt Thiềm (Group Croissant) - Nằm ở phía
Tây của quần đảo Hoàng Sa và gồm những
đảo chính: Ðảo Hoàng Sa (Pattle), Ðảo Cam
Tuyền (Robert), Ðảo Vĩnh Lạc (Money), Ðảo
Quang Hòa (Duncan), Ðảo Duy Mộng (Drumond), Ðảo Tri Tôn
(Triton), Ðảo Bạch Gui (Passu Keath), và Cồn quan sát
(Banc des observations). b. Nhóm
Tuyên Ðức (Group Amphitrite) - Gồm các
đảo quan trọng: Ðảo Tây (Banc Ouest), Ðảo
Trung (I. Milieu), Ðảo Cù Mộc (I. à Larbre), Ðảo
Bắc (I. Nord), Ðảo Nam (I. Sud), Ðảo Hòn Ðá (I.
Rocheuse), Ðảo Phú Lâm (I. Boisée), và Ðảo Linh Côn (I.
Lincoln). 2. Nguồn
Lợi Hoàng Sa – Quần
đảo Hoàng Sa có 2 nguồn lợi lớn là hải
sản và khoáng sản. a. Hải
sản - Ðủ loại: cá hồng, cá
nục, cá đuối, cá mập, ốc tai tượng,
trạch biển, rong biển, hải âu… b. Khoáng
sản - Khoáng sản của quần
đảo Hoàng Sa là "phốt phát" (phosphate).
Số lượng phốt phát do các đảo cung
cấp: Hoàng sa: từ 562 đến 960 ngàn tấn, Vĩnh
Lạc: từ 787 đến 1 triệu 200 ngàn tấn,
Cam Tuyền: từ 675 ngàn tấn đến 1 triệu
400 ngàn tấn, Duy Mộng: từ 675 ngàn tấn trở
lên (theo tài liệu của Tổng Nha Khoáng Chất và Công
Kỹ Nghệ VNCH năm 1973). 3. Hoàng
Sa gắn liền với lịch sử Việt Nam Theo "Phủ Biên Tạp
Lục" của Lê Quý Ðôn (viết vào khoảng
1775-1776) thì tiền nhân ta đã mở mang kinh tế
ở Hoàng Sa. Ông viết: "Năm 1638, Hiền Vương
Nguyễn Phúc Tấn đã tuyển ngư phủ
hải đảo Lý Sơn (tức cù lao Ré, Quảng Ngãi)
để thành lập đội Hoàng Sa". Từ
thời Chiêm Thành chưa sát nhập nước ta, người
Chiêm Thành đã nhiều lần đi lấy hải
sản ở Hoàng Sa. Ðời
Vua Gia Long, Ngài đã đặt chân lên quần đảo
Hoàng Sa năm 1802. Trong thời gian này, Việt Nam đã
thành lập công ty Hoàng Sa, gồm khoảng 70 thủy
thủ, đi Hoàng Sa để tìm hải vật. Ðến đời Vua Minh Mạng
(1820-1848), Ngài đặc biệt chú ý đến Hoàng
Sa. Trong cuốn "Hoàng Việt Ðịa Dư"
(ấn hành năm 1835) đã chứng minh chủ
quyền Việt Nam ở Hoàng Sa như sau: "Ở
phía Ðông Bắc xã An Ninh, Huyện Bình Sơn và ở
ngoài biển khơi có một quần đảo
gồm có 130 đảo nhỏ. Những hòn đảo
này cách nhau bằng một ngày thuyền hoặc vài
giờ thuyền. Dưới ven đảo đều có
giếng nước ngọt. Ở giữa những
mỏm đá người ta thấy có một bãi cát vàng
bao la nên đảo này mang tên là Hoàng Sa. Nơi đây
có sóng biển dữ dội." Vua Minh Mạng đã sai đội
hải thuyền chở gạch đá ra Hoàng Sa dựng
chùa "Phật Cổ Tự" và dựng tấm bia
"Vạn Lý Ba Ðình" (nghĩa là sóng êm nơi xa
vạn lý) làm dấu tích. Theo "Quốc Triều Chính
Biên Toát Yếu" thì Vua Minh Mạng đã thân chinh
đến quần đảo Hoàng Sa năm 1836 để
quan sát việc đo đạc, xác định vị
trí và lập họa đồ. Từ
năm 1920, các tàu tuần tiểu của Nha Thương
Chánh Ðông Dương luôn luôn tới lui quần đảo
Hoàng Sa để kiểm soát bọn buôn lậu vũ
khí và á phiện. Năm
1925, Hải Học Viện Ðông Dương đã
cử một phái đoàn thám hiểm khoa học đến
quần đảo Hoàng Sa để nghiên cứu khoáng
sản tại đó. Ngày 3-3-1925, ông Thân Trọng
Huề, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh của
triều đình Huế, đã xác nhận chủ
quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa
bằng một văn thư, có đoạn như sau: "Quần
đảo Hoàng Sa luôn luôn thuộc về Việt Nam và
đó là vấn đề không thể chối cãi
được…" Năm 1926, nhà địa chất
học quốc tế, Tiến sĩ Khoa học A. Krempf,
Giám đốc Hải Học Viện Ðông Dương
đã tới quần đảo Hoàng Sa để quan sát
và đo đạc, năm sau (tức 1927) ông phúc trình
lên chính quyền bảo hộ (Pháp) về tài nguyên thiên
nhiên tại quần đảo Hoàng Sa. Ông kết
luận: "Về mặt địa chất, quần
đảo Hoàng
Sa là
thành phần của Việt
Nam" (Géologiquement les Paracels font
partie du Vietnam). Năm
1931, Pháp gửi binh sĩ đến trú đóng tại
Hoàng Sa. Năm
1932, Pháp thiết lập một ngọn hải
đăng tại đảo Hoàng Sa. Trong
thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam đã có
những cơ sở hành chánh tại quần đảo
Hoàng Sa: Nghị Ðịnh số 156-SC do Toàn Quyền Pháp
tại Ðông Dương ký và ban hành ngày 15-6-1932
nhằm thiết lập đại lý tại đảo
Hoàng Sa và đặt trực thuộc tỉnh Thừa
Thiên. Sau đó, Hoàng Ðế Bảo Ðại đã ban hành
Dụ số 10 ngày 30-3-1938. Theo Giám Mục Tabert trong quyển
"Ðịa dư lịch sử cảnh trí và tôn giáo
phong tục tập quán các dân tộc" (xuất
bản năm 1938) thì "… từ trên 34 năm rồi
nhóm quần đảo Tây Sa mà người An-Nam thường
gọi là đảo Cát Vàng hay Hoàng Sa thực là hòn
đảo nhỏ bí hiểm, gồm những mỏm
đá xen lẫn với các bãi cát mà những nhà hàng
hải đều kinh hãi, đã do người Nam
Kỳ chiếm cứ." Một
đoạn khác, tác giả viết: "… nhưng
có điều chắc chắn là Hoàng Ðế Gia Long
đã đặt đảo đó dưới quyền
của nhà Vua, và năm 1816, Hoàng Ðế đã long
trọng trương lá cờ Nam Kỳ ở trên đảo." Ngày
5-5-1939, Toàn Quyền Pháp tại Ðông Dương đã
thiết lập 2 đơn vị hành chánh tại
quần đảo Hoàng Sa là đơn vị Croissant (Délégation
du Croissant et dépendances) tại nhóm Nguyệt Thiềm và
đơn vị Amphitrite (Délégation de l'Amphitrite et dépendances)
tại nhóm Tuyên Ðức. Năm
1947, Pháp thiết lập đài vô tuyến tại đảo
Hoàng Sa để bảo đảm an ninh thủy
vận cho vùng Nam Hải. Tháng 9 năm 1951, tại hội
nghị San Francisco (Hoa Kỳ), trưởng phái đoàn
Việt Nam đã tuyên bố trước 51 phái đoàn
các quốc gia tham dự hội nghị, đại ý như
sau: "Ðể
cắt đứt mọi mầm mống xích mích, chúng
tôi xác nhận chủ quyền Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà bất cứ
ở thời đại nào cũng vẫn thuộc lãnh
thổ quốc gia Việt Nam". Kể
từ năm 1956, Hải Quân VNCH đã thường xuyên
tổ chức các cuộc thám sát và thăm viếng
quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm của
Hải Quân VNCH đã thường xuyên chở các toán
TQLC và ÐPQ ra trấn giữ quần đảo Hoàng Sa và
liên tục tiếp tế thực phẩm, quân dụng,
thuốc men cho các toán này. Ngày
13-7-1961, Tổng Thống VNCH đã ban hành Sắc
Lệnh số 174-NV đặt quần đảo Hoàng
Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập xã Ðịnh
Hải, thuộc quận Hòa Vang, tại đảo này. Ngày
21-10-1969, Thủ Tướng Chính Phủ VNCH đã ban hành
Nghị Ðịnh số 709-BNV-HC sát nhập xã Ðịnh
Hải vào xã Hòa Long, thuộc quận Hòa Vang, tỉnh
Quảng Nam. * Trung
Cộng xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại Hoàng
Sa
Năm
1956, Trung Cộng đã xâm chiếm hai hải đảo
phía Bắc của quần đảo Hoàng Sa, đó là
đảo Phú Lâm (Boisée) và đảo Linh Côn (Lincoln), mà
không gặp một trở ngại nào. Trước tiên,
chúng cho dân chài đến đánh cá vùng Hoàng Sa,
rồi ghé lại các đảo này để nghỉ
ngơi. Thấy không có phản ứng của Việt
Nam, chúng đưa quân đội đến chiếm
đóng và thiết lập các cơ sở và công
sự phòng thủ. Riêng tại đảo Phú Lâm, chúng
đặt cơ sở thiên văn, đài truyền tin,
và hệ thống điện lực. Mục đích chính
của chúng là khai thác phốt phát. Ngày
4-9-1958, Trung Cộng ra bản tuyên bố về hải
phận của Trung Cộng, trong đó bao gồm hai
quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands), tiếng Tàu
gọi là Xisha (Tây Sa) và Trường Sa (Spratly Islands),
tiếng Tàu gọi là Nansha (Nam Sa). Năm
1959, Trung Cộng âm mưu chiếm nốt các đảo
ở phía nam quần đảo Hoàng Sa, tức nhóm
Nguyệt Thiềm, bằng cách áp dụng lại các
kế hoạch năm 1956. Nhưng Hải Quân VNCH đã
kịp thời ngăn chặn âm mưu này và đã
bắt giữ một số ngư phủ của Trung
Cộng xâm nhập bất hợp pháp hai đảo
Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drumond). Ngày
11-01-1974, Bộ Ngoại Giao Trung Cộng lên tiếng
mạo nhận chủ quyền trên các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH, ngang nhiên cho người
và tàu bè xâm nhập vùng lãnh hải chung quanh các đảo
Cam Tuyền (Robert), Quang Hòa (Duncan), và Duy Mộng (Drumond)
thuộc quần đảo Hoàng Sa. Bọn người
này đã dựng chòi và kéo cờ của Trung Cộng.
Tức nước thì vỡ bờ, ngày 19-01-1974 VNCH
đã ra lệnh hải chiến với tàu Trung
Cộng, gọi là trận hải chiến Hoàng Sa. * Chứng
liệu bán nước của CSBV
Ngày 15-6-1956, Ngoại Trưởng
của CS Bắc Việt là Ung Văn Khiêm đã tuyên
bố: "Hà
Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc
tại Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi
là Tây Sa và Nam Sa". Ngày
14-9-1958, Phạm Văn Ðồng, Thủ tướng Chính
Phủ Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa
(tức Bắc Việt) đã ký văn thư gửi
Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc vụ viện (tức
Thủ-tướng) của Nước Cộng hòa Nhân
dân Trung-hoa (tức Trung Cộng), tán thành bản tuyên
bố ngày 4-9-1958 của Trung Cộng quyết định
về hải phận của Trung Quốc (trong đó bao
gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam); đồng thời cam kết tôn trọng hải
phận 12 hải lý của Trung Cộng. Diễn
Tiến Trận
Hải Chiến HOÀNG SA
HQ
10 VNCH Diễn
Tiến Trận Thư Hùng Hải Chiến Lịch
Sử Ngày
19-01-1974,
báo chí, hệ thống truyền thanh và truyền hình
VNCH đồng loạt tường thuật về
trận hải chiến lịch sử tại quần
đảo Hoàng Sa giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân
Trung Cộng. Trận thử lửa đầy gian nguy này
nhằm chống lại đế quốc Trung Cộng xâm
lăng phần lãnh thổ thân yêu của Việt Nam, nhưng
chỉ có các chiến sĩ Hải Quân VNCH hào hùng
bất khuất lâm trận; trong khi đó, ngụy
quyền Hà Nội và Hải Quân Bắc Việt đều
lặng im thin thít một cách hèn nhát. Ngày
17-01-1974, 15
chiến sĩ Hải Quân VNCH thuộc Tuần Dương
Hạm Lý Thường Kiệt (HQ.16) cùng các toán Người
Nhái và Biệt Hải đã đổ bộ lên
quần đảo Hoàng Sa vì được tin một
số quân Trung Cộng lén đóng trên đó. Các
chiến sĩ Hải Quân VNCH cắm hết cờ trên
đảo và chờ lệnh. Lúc đó, phản lực
cơ của Trung Cộng gầm thét trên trời cao, và
tàu của Trung Cộng xuất hiện ở ngoài
biển khơi.
4
tàu HQ/VNCH Ngày
19-01-1974,
trận thư hùng hải chiến bắt đầu.
Khoảng 10 giờ sáng, các chiến hạm của
Trung Cộng bắt đầu vây các chiếm hạm
của Hải Quân VNCH. Cùng lúc đó, tàu Trung Cộng
đổ hàng chục Ðại Ðội lên đảo và
giao tranh với quân trú đóng phòng thủ của ta. Ðến
khoảng 10 giờ 25 phút, tàu Hải Quân ta
được lệnh nã hải pháo vào tàu của
Trung Cộng. Chỉ trong vòng 5 phút đầu, Hộ
tống hạm Nhựt Tảo (HQ.10) đã bắn trúng
hầm máy của chiến hạm Trung Cộng mang
số 396 nên tàu bừng bừng bốc cháy. Tiếp
theo đó, hàng loạt đạn hải pháo khác
của HQ.16, HQ.4 và HQ.5 đã bắn trúng tàu địch
mang số 271, đài radar bị gãy, mất tay lái, quay vòng
vòng rồi lủi vào bãi san hô để tự
hủy. Các thủy thủ của tàu này phải
nhảy xuống biển để đào thoát. Thêm
một chiến hạm thứ hai mang số 274 bị trúng
đạn phát hỏa dữ dội. Rồi chiến
hạm thứ tư (số 389) của địch cũng
bị chung số phận.
Trục
Lôi Hạm T936 TC
2
Hộ Tống
Hạm 271&274 TC Bị
thất bại nặng nề trong màn đầu hải
chiến nên quân Trung Cộng lồng lộn lên, lập
tức tăng cường thêm nhiều chiến hạm
khác để gỡ gạc. Hai chiến hạm địch
mang số 281 và 282 dồn hết hỏa lực vào HQ.10
để trả thù. Chẳng may, HQ.10 bị trúng đạn
nơi phòng máy chánh nên tàu bị nghiêng sang hữu
hạm. Hạm phó (HQ Ðại Úy Nguyễn Thành Trí)
bị thương nặng, một số chiến sĩ
đã hy sinh. Nhưng Hạm Trưởng (HQ Thiếu Tá
Ngụy Văn Thà) và thủy thủ đoàn còn lại
không hề nao núng. Vừa tự cứu thương,
cứu hỏa, vừa dồn hỏa lực chống
trả 2 chiến hạm địch (281, 282). Gần
tới màn kết thúc, một trái phá của địch
bắn trúng đài chỉ huy HQ.10. Hạm Trưởng
Ngụy Văn Thà và HSI CK Ðinh Hoàng Mai bị thương
nặng, chiến hạm bị liệt máy và nghiêng
tới mức nguy hiểm nên Hạm Trưởng Thà ra
lệnh cho nhân viên đào thoát trên 4 chiếc bè
cứu cấp. Hạm Phó Trí xin ở lại nhưng không
được Hạm Trưởng Thà chấp thuận
vì Hạm Phó phải đi với nhân viên. Chỉ có
HSI Mai được ở lại vì HSI Mai tha thiết
muốn được noi gương Hạm Trưởng
chết theo chiến hạm Nhựt Tảo. Vì Hạm Phó
Trí bị thương khá nặng nên ông đã kiệt
sức trên bè, đành phải thủy táng. Hai mươi
hai thủy thủ còn lại đã được thương
thuyền Hòa Lan Skopionella cứu vớt 4 ngày sau đó.
6
Chiến Sĩ HQ/VNCH Hy Sinh Trận
hải chiến kéo dài hơn một tiếng đồng
hồ. Ngoài một chiến hạm địch đã chìm
sâu trong lòng biển lạnh, còn ba chiếc khác đang
ngùn ngụt bốc cháy phải ủi bãi và bị phá
hủy sau đó. Thành
Phần Tham Chiến Về
phía VNCH:
Lực lượng tàu chiến Hải Quân tham chiến
gồm có: Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ.4),
Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt
(HQ.16), Tuần dương hạm Trần Bình Trọng
(HQ.5), và Hộ tống hạm Nhựt Tảo (HQ.10).
Hỏa lực của ta gồm có: đại bác 20 ly,
40 ly, 57 ly, 76 ly và 127 ly. Về
phía TC:
Lực lượng tàu chiến gồm có: Ngoài bốn
chiếc tàu ngụy trang tàu đánh cá có trang bị vũ
khí và một tàu đổ quân, còn có các chiến
hạm trang bị hỏa lực hùng hậu, có hỏa
tiễn và đại bác từ 100 ly đến 130 ly. Sáu
chiến hạm sơn màu cứt ngựa mang số 271,
274, 281, 282, 389, 396. (Ghi
Chú: Sau này tác giả mới được biết
271, 274, 281 và 282 là Hộ tống hạm Kronstadt; 389 và
396 là Trục lôi hạm; còn 4 tàu ngụy trang tàu đánh
cá là Phi tiễn đỉnh (Komar 133, 137, 139, 145). TỔNG
KẾT TỔN THẤT ĐÔI BÊN Hải
Quân Trung Cộng a)
Tổn thất chiến cụ: Kronstadt
274 bị chìm với toàn bộ sĩ quan tham mưu;
Kronstadt 271 bị hư hại nặng phải ủi bãi,
sau đó bị phá hủy, hạm trưởng tử
thương; Trục lôi hạm 389 và 396 bị hư
hại nặng phải ủi bãi và sau đó bị phá
hủy; 4 ngư thuyền (tức Phi tiễn đỉnh
Komar 133, 137, 139, 145) chỡ quân bị chìm, không rõ
thiệt hại về nhân mạng. b)
Tổn thất nhân mạng: 24
sĩ quan tử thương (1 Ðô Ðốc + 7 Ðại Tá
+ 7 Trung Tá + 2 Thiếu Tá + 7 cấp Úy) và hơn 100 HSQ và
Ðoàn viên tử thương. Ðó là chưa kể số
SQ, HSQ, ÐV bị thương nặng nhẹ. Hải
Quân VNCH: a)
Tổn thất chiến cụ: HQ.10
bị chìm. HQ.4, HQ.5 và HQ.16 bị hư hại nhẹ. b)
Tổn thất nhân mạng: 32
SQ, HSQ và Ðoàn viên tử thương (trong đó có Th/Tá
Thà và Ð/Úy Trí, Hạm Trưởng và Hạm Phó HQ.10)
+ 26 mất tích. (Theo
tài liệu hiện giờ có 74 Anh Hùng Tử
Sĩ Hải Quân VNCH). Ghi
chú:
Hạm Trưởng Khu trục hạm Trần Khánh Dư
(HQ.4): HQ Trung Tá Vũ Hữu San; Hạm Trưởng
Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt
(HQ.16): HQ Trung Tá Lê Văn Thư; Hạm Trưởng
Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ.5): HQ
Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh; Hạm Trưởng
Hộ tống hạm Nhựt Tảo (HQ.10): HQ Thiếu Tá
Ngụy Văn Thà (sau trận hải chiến ông
được vinh thăng Cố Trung Tá; HQ Ðại Úy
Nguyễn Thành Trí (Hạm Phó) được vinh thăng
Cố Thiếu Tá). (Đức
Phố, 19-01-2000) VĨNH LIÊM |